0906.920.555

Quy Định Đo Đạc Lập Bản Đồ Địa Chính

Chính phủ ban hành Nghị định số 101/2024/NĐ-CP ngày 29 tháng 7 năm 2024 quy định về điều tra cơ bản đất đai; đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và Hệ thống thông tin đất đai. Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Đất đai về điều tra cơ bản đất đai; đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai, gồm: khoản 4 Điều 50, khoản 1 Điều 55, khoản 5 Điều 131, khoản 7 Điều 135, khoản 10 Điều 138, khoản 6 Điều 139, khoản 7 Điều 140, khoản 3 Điều 142, khoản 4 Điều 170, khoản 2 Điều 181 và các điểm b, c, d, đ, i và k khoản 1 Điều 223 của Luật Đất đai. Việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm.

Đối tượng áp dụng: Cơ quan nhà nước được giao thực hiện quyền hạn và trách nhiệm đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, thực hiện nhiệm vụ thống nhất quản lý nhà nước về đất đai. Người sử dụng đất, người được giao quản lý đất theo quy định của Luật Đất đai. Các đối tượng khác có liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất.

Nguyên tắc, mục đích đo đạc lập bản đồ địa chính

1. Việc đo đạc lập bản đồ địa chính phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

Đảm bảo thống nhất trong hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia VN-2000;

Phản ánh trung thực, khách quan hiện trạng sử dụng đất, hiện trạng quản lý đất và ghi nhận tình trạng pháp lý của thửa đất tại thời điểm đo đạc;

Ưu tiên ứng dụng công nghệ mới đảm bảo hiệu quả kinh tế, phù hợp với khu vực đo đạc và quy định kỹ thuật về đo đạc lập bản đồ địa chính;

Bản đồ địa chính sau khi được phê duyệt phải đưa vào sử dụng cho công tác quản lý đất đai.

2. Bản đồ địa chính được lập để sử dụng cho các mục đích sau:

Đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai;

Thống kê, kiểm kê đất đai; lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất; trưng dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; điều tra, đánh giá đất đai;

Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng đất; xử lý vi phạm pháp luật đất đai và giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai;

Các mục đích quản lý đất đai khác theo quy định của pháp luật.

Nội dung và hoạt động đo đạc lập bản đồ địa chính

Thửa đất: Ranh giới thửa đất, loại đất, số thứ tự thửa đất, diện tích thửa đất;

Các yếu tố khác liên quan đến nội dung bản đồ địa chính bao gồm: Khung bản đồ; điểm khống chế tọa độ, độ cao; mốc địa giới và đường địa giới đơn vị hành chính các cấp; các đối tượng chiếm đất không tạo thành thửa đất; nhà ở và công trình xây dựng khác; địa vật, công trình có ý nghĩa định hướng cao; mốc giới quy hoạch; chỉ giới hành lang bảo vệ an toàn các công trình theo quy định của pháp luật; ghi chú thuyết minh; dáng đất hoặc điểm ghi chú độ cao (nếu có).

Đo đạc lập mới bản đồ địa chính đối với khu vực chưa có bản đồ địa chính gắn với hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia;

Đo đạc lập lại bản đồ địa chính đối với khu vực đã có bản đồ địa chính nhưng đã thay đổi ranh giới của 75% thửa đất trở lên khi thực hiện dồn điền, đổi thửa; khu vực chỉ có bản đồ địa chính dạng giấy đã rách nát, hư hỏng không thể khôi phục và không thể sử dụng để số hóa; khu vực đã có bản đồ địa chính được lập bằng phương pháp ảnh hàng không, phương pháp bàn đạc bằng máy kinh vĩ quang cơ có tỷ lệ bản đồ nhỏ hơn so với tỷ lệ bản đồ cần đo vẽ theo quy định; khu vực đã thực hiện quy hoạch sử dụng đất để hình thành các khu trung tâm hành chính, khu đô thị, khu dân cư, khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp;

Đo đạc bổ sung bản đồ địa chính thực hiện đối với khu vực đã có bản đồ địa chính nhưng chưa đo vẽ khép kín phạm vi đơn vị hành chính, bao gồm cả khu vực đã do khoanh bao trên mảnh bản đồ địa chính trước đó nhưng chưa đo chi tiết đến từng thửa đất;

Đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính thực hiện với khu vực đã có bản đồ địa chính khi có sự thay đổi một trong các yếu tố về hình dạng, kích thước, diện tích thửa đất và các yếu tố khác có liên quan đến nội dung bản đồ địa chính;

Số hóa, chuyển hệ tọa độ bản đồ địa chính thực hiện ở những khu vực chỉ có bản đồ địa chính giấy lập trong hệ quy chiếu và hệ tọa độ HN-72 nay chuyển thành bản đồ địa chính số trong hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia VN-2000 (sau đây gọi là hệ VN-2000);

Trích đo bản đồ địa chính được thực hiện riêng đối với từng thửa đất hoặc nhiều thửa đất trong phạm vi một mảnh trích đo bản đồ địa chính theo tỷ lệ cần thành lập đối với nơi chưa có bản đồ địa chính.

Điều kiện thực hiện đo đạc lập bản đồ địa chính quy định tại khoản 2 Điều này như sau: Hoạt động đo đạc lập bản đồ địa chính quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều này thì lập thiết kế kỹ thuật – dự toán trình cấp có thẩm quyền phê duyệt trước khi triển khai, trừ trường hợp chỉnh lý bản đồ địa chính thực hiện thường xuyên theo kế hoạch thực hiện nhiệm vụ của Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai; Hoạt động đo đạc lập bản đồ địa chính quy định tại điểm đ và điểm e khoản 2 Điều này thì lập phương án nhiệm vụ trình cấp có thẩm quyền phê duyệt trước khi triển khai, trừ hoạt động trích đo bản đồ địa chính thực hiện theo nhu cầu của người sử dụng đất mà không sử dụng ngân sách nhà nước thì theo hợp đồng dịch vụ; Trường hợp thực hiện đồng thời một trong các hoạt động đo đạc lập bản đồ địa chính quy định tại điểm a và điểm b Điều này thì lập thiết kế kỹ thuật – dự toán trình cấp có thẩm quyền phê duyệt trước khi triển khai.

Thực hiện đo đạc lập bản đồ địa chính

Đối với các hoạt động đo đạc lập bản đồ địa chính mà phải lập thiết kế kỹ thuật – dự toán, phương án nhiệm vụ thì thực hiện như sau: Rà soát, xác định khu vực cần lập bản đồ địa chính: Cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp tỉnh tổ chức rà soát sản phẩm đo đạc lập bản đồ địa chính trên địa bàn, xác định, tổng hợp nhu cầu thực hiện đo đạc lập bản đồ địa chính để báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định khu vực, phạm vi cần lập bản đồ địa chính. Đối với khu vực thực hiện trích đo bản đồ địa chính thì cơ quan có chức năng quản lý đất đai chấp thuận, cho phép thực hiện đồng thời với quá trình thẩm định phương án nhiệm vụ do chủ đầu tư đề xuất quy định tại khoản 3 Điều này.

Khảo sát, lập thiết kế kỹ thuật – dự toán, phương án nhiệm vụ: Cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ hoặc cơ quan, đơn vị được giao làm chủ đầu tư (sau đây gọi là chủ đầu tư dự án, nhiệm vụ) có trách nhiệm tổ chức khảo sát khu vực đo đạc lập bản đồ địa chính, lập, trình phê duyệt thiết kế kỹ thuật – dự toán, phương án nhiệm vụ; chủ đầu tư dự án, nhiệm vụ được lựa chọn đơn vị tư vấn lập thiết kế kỹ thuật – dự toán, phương án nhiệm vụ để thực hiện theo quy định của pháp luật.

Thẩm định thiết kế kỹ thuật – dự toán, phương án nhiệm vụ: Cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp tỉnh có trách nhiệm thẩm định nội dung thiết kế kỹ thuật trong thiết kế kỹ thuật – dự toán, phương án nhiệm vụ. Cơ quan thẩm định nội dung dự toán kinh phí trong thiết kế kỹ thuật – dự toán, phương án nhiệm vụ được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý ngân sách nhà nước.

Phê duyệt thiết kế kỹ thuật – dự toán, phương án nhiệm vụ và bố trí kinh phí thực hiện: Cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm phê duyệt thiết kế kỹ thuật – dự toán, phương án nhiệm vụ và bố trí kinh phí thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý ngân sách.

Triển khai thiết kế kỹ thuật – dự toán, phương án nhiệm vụ sau khi được phê duyệt, gồm:

Lựa chọn đơn vị thực hiện. Chủ đầu tư dự án, nhiệm vụ được lựa chọn đơn vị tư vấn thi công, đơn vị tư vấn giám sát, kiểm tra để thực hiện thiết kế kỹ thuật – dự toán, phương án nhiệm vụ;

Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện;

Phổ biến, tuyên truyền kế hoạch triển khai thực hiện;

Lập lưới địa chính, lưới khống chế đo vẽ (nếu có);

Thu thập thông tin, dữ liệu về thửa đất, người sử dụng đất, người được giao đất để quản lý;

Xác định ranh giới thửa đất; lập bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất;

Đo vẽ ranh giới thửa đất và các đối tượng địa lý có liên quan;

Biên tập bản đồ địa chính; lập phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất; công khai bản đồ địa chính;

Lập sổ mục kê đất đai;

Ký xác nhận, phê duyệt sản phẩm;

Giao nộp sản phẩm.

Chỉnh lý bản đồ địa chính

Bản đồ địa chính được chỉnh lý khi thửa đất và các yếu tố khác liên quan đến nội dung bản đồ địa chính quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị định này có thay đổi.

Bản đồ địa chính được chỉnh lý dựa trên một trong các căn cứ sau:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận); quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất, thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân, quyết định về thi hành án của cơ quan thi hành án đã có hiệu lực thi hành; kết quả giải quyết tranh chấp đất đai của cấp có thẩm quyền; các quyết định hành chính của cấp có thẩm quyền có liên quan đến thửa đất; quyết định của cấp có thẩm quyền về thay đổi địa giới hành chính, lập đơn vị hành chính mới mà hồ sơ địa giới hành chính đã được thiết lập;

Văn bản của cơ quan có chức năng quản lý đất đai các cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã khi phát hiện có sai sót của bản đồ địa chính hoặc phản ánh về ranh giới thửa đất bị thay đổi do sạt lở, sụt đất tự nhiên;

Văn bản về thay đổi chỉ giới hành lang bảo vệ an toàn các công trình theo quy định của pháp luật;

Văn bản, quyết định của cấp có thẩm quyền có nội dung dẫn đến thay đổi trong chia mảnh và thay đổi số thứ tự mảnh bản đồ địa chính;

Kết quả kiểm tra của Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đối với trường hợp người sử dụng đất có văn bản phản ánh về các sai khác thông tin của thửa đất.

Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai kiểm tra, đối chiếu, thực hiện chỉnh lý biến động bản đồ địa chính và sổ mục kê đất đai và thông báo việc cập nhật, chỉnh lý biến động cho Ủy ban nhân dân cấp xã.

Trình tự, thủ tục tách thửa đất, hợp thửa đất

Người sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ tại cơ quan tiếp nhận hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều 21 của Nghị định này, hồ sơ bao gồm: Đơn đề nghị tách thửa đất, hợp thửa đất theo Mẫu số 01/ĐK ban hành kèm theo Nghị định này; Bản vẽ tách thửa đất, hợp thửa đất lập theo Mẫu số 02/ĐK ban hành kèm theo Nghị định này do Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện hoặc do đơn vị đo đạc có Giấy phép về hoạt động đo đạc, thành lập bản đồ địa chính thực hiện; Giấy chứng nhận đã cấp hoặc bản sao Giấy chứng nhận đã cấp kèm bản gốc để đối chiếu hoặc nộp bản sao có công chứng, chứng thực; Các văn bản của cơ quan có thẩm quyền có thể hiện nội dung tách thửa đất, hợp thửa đất (nếu có).

Cơ quan tiếp nhận hồ sơ cấp Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả cho người nộp hồ sơ. Trường hợp cơ quan tiếp nhận hồ sơ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 21 của Nghị định này thì chuyển hồ sơ đến Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai.

Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai kiểm tra hồ sơ, đối chiếu quy định tại Điều 220 của Luật Đất đai để xác định điều kiện tách thửa đất, hợp thửa đất; kiểm tra các thông tin về người sử dụng đất, ranh giới, diện tích, loại đất của các thửa đất trên hồ sơ lưu trữ, hồ sơ do người sử dụng đất nộp và thực hiện như sau:

Trường hợp hồ sơ không đủ điều kiện tách thửa đất, hợp thửa đất thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai trả hồ sơ cho người sử dụng đất và thông báo rõ lý do;

Trường hợp hồ sơ đủ điều kiện tách thửa đất, hợp thửa đất nhưng Giấy chứng nhận đã cấp không có sơ đồ thửa đất hoặc có sơ đồ thửa đất nhưng thiếu kích thước các cạnh hoặc diện tích và kích thước các cạnh không thống nhất thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai trả hồ sơ và thông báo rõ lý do cho người sử dụng đất để thực hiện đăng ký biến động đất đai;

Trường hợp hồ sơ không thuộc quy định tại điểm a và điểm b khoản này thì trong thời gian 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai xác nhận đủ điều kiện tách thửa đất, hợp thửa đất kèm các thông tin thửa đất vào Đơn đề nghị tách thửa đất, hợp thửa đất, đồng thời xác nhận vào Bản vẽ tách thửa đất, hợp thửa đất để hoàn thiện thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với các thửa đất sau tách thửa, hợp thửa, trừ trường hợp Bản vẽ tách thửa đất, hợp thửa đất do Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện;

Thông tin chính thức của các thửa đất sau tách thửa, hợp thửa chỉ được xác lập và chỉnh lý vào bản đồ địa chính sau khi người sử dụng đất thực hiện đăng ký biến động và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho thửa đất sau tách thửa, hợp thửa.

Trường hợp tách thửa đất, hợp thửa đất mà không thay đổi người sử dụng đất thì Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện việc chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho các thửa đất sau khi tách thửa đất, hợp thửa đất; trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho người được cấp.

Trường hợp tách thửa đất, hợp thửa đất mà có thay đổi người sử dụng đất thì thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất theo quy định tại Điều 37, Điều 43 của Nghị định này.

Quản lý, sử dụng, khai thác sản phẩm đo đạc lập bản đồ địa chính

Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý bản đồ địa chính số;

Cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp tỉnh, cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý bản đồ địa chính số và giấy. Cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp tỉnh giao Văn phòng đăng ký đất đai quản lý, sử dụng tập trung, thống nhất và cập nhật, chỉnh lý biến động bản đồ địa chính;

Bản đồ địa chính phải đưa vào lưu trữ theo pháp luật về lưu trữ.

Sử dụng, khai thác bản đồ địa chính: Bản đồ địa chính, trích đo bản đồ địa chính được cấp có thẩm quyền phê duyệt phải được đưa vào sử dụng cho các mục đích quy định tại khoản 2 Điều 3 của Nghị định này thay thế cho bản đồ địa chính, trích đo bản đồ địa chính đã lập trước đó. Bản đồ địa chính, trích đo bản đồ địa chính đã lập trước đó có giá trị sử dụng khi giải quyết các nội dung theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 của Nghị định này;

Đối với những nơi đã có bản đồ địa chính, trích đo bản đồ địa chính khi tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng thông tin liên quan đến thửa đất thì cơ quan quản lý bản đồ địa chính quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này thực hiện trích lục bản đồ địa chính, trích lục trích đo bản đồ địa chính;

Việc khai thác bản đồ địa chính được thực hiện theo quy định về khai thác hồ sơ địa chính và khai thác hệ thống thông tin đất đai.

Trách nhiệm thực hiện việc đo đạc lập bản đồ địa chính

Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện các nội dung sau: Thống nhất quản lý nhà nước đối với các hoạt động đo đạc lập bản đồ địa chính trên phạm vi cả nước; Quy định kỹ thuật về đo đạc lập bản đồ địa chính; Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về hoạt động đo đạc lập bản đồ địa chính trên phạm vi cả nước. Bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc đo đạc lập bản đồ địa chính.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các nội dung sau: Thực hiện quy định tại khoản 3 Điều 50 của Luật Đất đai; Chỉ đạo thực hiện và tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật đo đạc lập bản đồ địa chính trên địa bàn; Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về đo đạc lập bản đồ địa chính trên địa bàn; Bố trí kinh phí cho các hoạt động đo đạc lập bản đồ địa chính của địa phương trong dự toán ngân sách địa phương hằng năm theo quy định của pháp luật về ngân sách.

Cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp tỉnh thực hiện các nội dung sau: Giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thực hiện các hoạt động đo đạc lập bản đồ địa chính; quản lý, sử dụng sản phẩm đo đạc lập bản đồ địa chính và thẩm định thiết kế kỹ thuật – dự toán, phương án nhiệm vụ đối với nội dung về kỹ thuật trước khi thực hiện; Thực hiện nhiệm vụ đo đạc lập bản đồ địa chính quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều 4 của Nghị định này; Kiểm tra, nghiệm thu và ký duyệt bản đồ địa chính; kiểm tra, ký duyệt mảnh trích đo bản đồ địa chính phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất đai thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trừ trường hợp đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; Thực hiện việc quản lý bản đồ địa chính theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Nghị định này; báo cáo định kỳ tình hình, kết quả đo đạc lập bản đồ địa chính; quản lý, sử dụng, chỉnh lý biến động bản đồ địa chính tại địa phương về Bộ Tài nguyên và Môi trường trước ngày 31 tháng 12 hằng năm; Hướng dẫn đối với các tổ chức, cá nhân trong các hoạt động đo đạc lập bản đồ địa chính và kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động đo đạc lập bản đồ địa chính trên địa bàn.

Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện các nội dung sau: Văn phòng đăng ký đất đai cập nhật bản đồ địa chính vào cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai; kiểm tra, ký duyệt mảnh trích đo bản đồ địa chính phục vụ đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; kiểm tra, ký duyệt mảnh trích đo bản đồ địa chính phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất đai thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này; Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai kiểm tra, ký duyệt mảnh trích đo bản đồ địa chính phục vụ đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức thực hiện các nội dung sau: Báo cáo, đề xuất cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp tỉnh về việc đo đạc lập bản đồ địa chính và việc quản lý, sử dụng, chỉnh lý biến động, kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm bản đồ địa chính tại địa phương; Phối hợp với cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp tỉnh trong việc thực hiện kiểm tra, giám sát việc đo đạc lập bản đồ địa chính và quản lý, sử dụng, chỉnh lý biến động bản đồ địa chính tại địa phương; Chỉ đạo cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện trách nhiệm theo phân cấp trong việc đo đạc lập bản đồ địa chính; quản lý, sử dụng, chỉnh lý biến động, kiểm tra nghiệm thu sản phẩm bản đồ địa chính tại địa phương.

Ủy ban nhân dân cấp xã phối hợp, hỗ trợ đơn vị đo đạc và đơn vị giám sát, kiểm tra, nghiệm thu trong quá trình thực hiện theo thiết kế kỹ thuật – dự toán hoặc phương án nhiệm vụ đo đạc lập bản đồ địa chính đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện tình hình đo đạc lập bản đồ địa chính và việc quản lý, sử dụng, biến động bản đồ địa chính tại địa phương; ký xác nhận bản đồ địa chính, mảnh trích đo bản đồ địa chính theo quy định; quản lý, bảo vệ điểm địa chính trên địa bàn.

Chủ đầu tư dự án, nhiệm vụ, cơ quan cấp trên trực tiếp của chủ đầu tư dự án, nhiệm vụ thực hiện các nội dung sau: Tổ chức thẩm định dự toán kinh phí đối với thiết kế kỹ thuật – dự toán, phương án nhiệm vụ theo quy định về quản lý tài chính; Phê duyệt thiết kế kỹ thuật – dự toán, phương án nhiệm vụ theo quy định của pháp luật sau khi có ý kiến thẩm định bằng văn bản về chuyên môn kỹ thuật của cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp tỉnh và thẩm định dự toán kinh phí theo quy định; Tổ chức thực hiện thiết kế kỹ thuật – dự toán, phương án nhiệm vụ sau khi được phê duyệt và giao nộp, lưu trữ, sử dụng, khai thác sản phẩm đo đạc lập bản đồ địa chính theo đúng quy định.

Đơn vị đo đạc; đơn vị giám sát, kiểm tra, thẩm định và nghiệm thu công trình, sản phẩm đo đạc lập bản đồ địa chính chịu trách nhiệm đối với chất lượng, khối lượng sản phẩm do đơn vị thực hiện và ký xác nhận.

Người sử dụng đất, người sử dụng đất liền kề, người quản lý đất, người quản lý đất liền kề, người dẫn đạc có trách nhiệm phối hợp với đơn vị đo đạc, cung cấp hồ sơ về thửa đất; chỉ dẫn, xác định ranh giới, mốc giới thửa đất tại thực địa; ký xác nhận ranh giới, mốc giới, thông tin thửa đất và chịu trách nhiệm với việc chỉ dẫn, ký xác nhận của mình.

Đối với nơi không thành lập đơn vị hành chính cấp xã thì Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp huyện thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của công chức địa chính cấp xã.

Thủ Tục Đo Đạc Hiện Trạng Sử Dụng Đất Trong Các Vụ Án Tranh Chấp Đất Đai

Tranh chấp đất đai từ trước đến nay vẫn là một trong những dạng tranh chấp phức tạp, đặc biệt là các tranh chấp về ai là người có quyền sử dụng đất, tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất. Một trong các thủ tục quan trọng khi giải quyết các dạng tranh chấp này chính là đo đạc, xác định diện tích sử dụng, ranh giới sử dụng đất theo hiện trạng sử dụng đất.

  1. Thẩm quyền đo đạc trong giải quyết tranh chấp đất đai

Toà án nhân dân là cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất nhưng không có chức năng đo đạc, xác định vị trí đối với đất đang tranh chấp. Do đó, khi thực hiện thủ tục đo đạc, Toà án cần kết hợp với các cơ quan chức năng, có chuyên môn thực hiện đo đạc, xác định hiện trạng sử dụng đất của các đương sự.

Tại khoản 1 Điều 13 Nghị định 102/2024/NĐ-CP ngày 31/7/2024 hướng dẫn chi tiết Luật Đất đai quy định: “Văn phòng đăng ký đất đai là tổ chức đăng ký đất đai, là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp tỉnh; có chức năng thực hiện đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (sau đây gọi là Giấy chứng nhận), đo đạc, chỉnh lý, lập bản đồ địa chính, xây dựng, quản lý, vận hành và khai thác hệ thống thông tin đất đai, cung cấp dịch vụ công về đất đai và hỗ trợ công tác quản lý nhà nước khác về đất đai trên địa bàn cấp tỉnh.”.

Khoản 2 Điều 13 Nghị định này cũng quy định các nhiệm vụ của Văn phòng đăng ký đất đai, trong đó có nhiệm vụ thực hiện đo đạc, chỉnh lý, lập bản đồ địa chính, trích lục bản đồ địa chính và thực hiện thu phí, lệ phí quy định của pháp luật. các khoản thu từ dịch vụ công về đất đai (có bao gồm dịch vụ cung cấp thông tin, dữ liệu về đất đai, dịch vụ đo đạc địa chính).

Ngoài ra, ở nhiều địa phương cũng có thành lập Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường. Đây là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức theo Quyết định của tỉnh/thành phố nơi thành lập. Cụ thể một số chức năng của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường như cung cấp dịch vụ, tác nghiệp về chuyên môn, kỹ thuật chuyên ngành về đo đạc – bản đồ, viễn thám, tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, địa chất, môi trường, khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu và biển.

Theo báo cáo tổng hợp của Cục Quy hoạch và Phát triển tài nguyên đất về thực trạng chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, cơ chế tài chính, tình hình hoạt động của Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên và môi trường của 43 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (20 tỉnh, thành phố chưa gửi báo cáo) thì hiện nay có 20/43 Sở có Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên và môi trường; 02/43 Sở có tên khác; 04/43 Sở sáp nhập Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên và môi trường vào Văn phòng Đăng ký đất đai; 03/43 Sở sáp nhập vào Trung tâm Phát triển quỹ đất; 04/43 Sở sáp nhập vào Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trường; 04/43 Sở sáp nhập vào Trung tâm Công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường; 03/43 không thành lập Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên và môi trường; 01/43 giải thể Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên và môi trường; 02/43 Sở chuyển Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành Công ty Cổ phần tự đảm bảo chi thường xuyên.[1]

Như vậy, Văn phòng đăng ký đất đai, Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường là cơ quan, tổ chức có chức năng thực hiện đo đạc bản đồ, chính lý hồ sơ địa chính. Qua các vụ án thực tế, việc đo đạc được thực hiện trực tiếp bởi Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện/quận (nơi có quyền sử dụng đất) hoặc được thực hiện bởi Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường theo sự trưng cầu đo đạc của đương sự.

  1. Thủ tục thực hiện đo đạc hiện trạng sử dụng đất trong giải quyết tranh chấp đất đai

Trong các vụ án tranh chấp đất đai, thông thường, việc đo đạc hiện trạng sử dụng đất được thực hiện dựa trên yêu cầu của đương sự (nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền và nghĩa vụ liên quan). Thủ tục đo đạc hiện trạng sử dụng đất thường được thực hiện cùng thủ tục xem xét, thẩm định tại chỗ của Toà án. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành lại không có quy định cụ thể đối với thủ tục đo đạc hiện trạng sử dụng đất. Do đó, đương sự cũng nhiều gặp nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện thủ tục này.

Từ những vụ án thực tế, thủ tục đo đạc có trình tự gần tương tự thủ tục định giá tài sản đang tranh chấp, nhìn chung thông qua các bước thực hiện gồm:

Bước 1: Đương sự trong vụ án thực hiện đề nghị Toà án tiến hành tổ chức đo đạc, xác định hiện trạng sử dụng đất.

Bước 2: Sau khi nhận được yêu cầu, Toà án xem xét cơ quan thực hiện đo đạc, yêu cầu tạm ứng chi phí thực hiện đo đạc, kết nối với đơn vị có chức năng thực hiện đo đạc để chuẩn bị tiến hành thủ tục đo đạc.

Bước 3: Sau khi bên yêu cầu đo đạc đã nộp tạm ứng chi phí đo đạc, Toà án ban hành Quyết định thực hiện đo đạc hiện trạng sử dụng đất đối với diện tích đất tranh chấp.

Bước 4: Cơ quan có chức năng tiến hành đo đạc theo thời gian do Toà án ấn định trước sự chứng kiến, chỉ dẫn của đương sự và những người tiên hành tố tụng, các đơn vị chứng kiến được mời/triệu tập tham gia.

Bước 5: Sau khi đo đạc, Cơ quan chức năng thực hiện cung cấp kết quả đo đạc để Toà án để Toà án xem xét, sử dụng như một chứng cứ giải quyết tranh chấp.

  1. Một số vướng mắc trong thủ tục đo đạc hiện trạng sử dụng đất tranh chấp trong các vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất

Việc đo đạc hiện trạng đối với đất đang tranh chấp giúp xác định chính xác các thông số về diện tích, ranh giới và tình trạng hiện tại đối với thửa đất, tạo một nguồn chứng cứ để Toà án tiếp tục thực hiện giải quyết tranh chấp. Việc đo đạc là một thủ tục quan trọng, tuy nhiên lại chưa được quy định chi tiết, cụ thể về trình tự thủ tục, gây ảnh hưởng lớn đến việc giải quyết các vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất.

[1]. Trong một vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, phía nguyên đơn đã yêu cầu Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thực hiện đo đạc để xác định hiện trạng sử dụng đất của nguyên đơn và bị đơn trên 02 thửa đất đang tranh chấp. Sau khi có sơ đồ bản vẽ về quyền sử dụng đất, bị đơn cho rằng sơ đồ đo đạc của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường đo vẽ không đúng, chưa thể hiện rõ diện tích sử dụng thực tế do các bên chỉ dẫn, diện tích đo đạc giảm do đối chiếu sai vị trí với các diện tích được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như nguyên đơn cố tình chỉ ít hơn diện tích mình đang sử dụng ở phía không tranh chấp. Thực tiễn xét xử vụ án trên đã phát sinh một số quan điểm về yêu cầu đo đạc lại như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Việc đo đạc, trích đo địa chính nhằm xác định diện tích theo hợp đồng với Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường là đo đạc hiện trạng phần diện tích đang tranh chấp quyền sử dụng đất giữa các bên, được thực hiện trên cơ sở vị trí được xác định thực địa bởi biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và biên bản làm việc cùng ngày. Do đó, mà số liệu được đo đạc vởi Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường đã phản ánh đúng theo các Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ mà Toà án đã xác lập nên không tiến hành đo đạc lại.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Sơ đồ đo đạc không có sự thống nhất về vị trí của các bên, chưa thể hiện rõ đâu là ranh giới sử dụng đất trên thực tế cũng như ranh giới sử dụng đất do đương sự chỉ dẫn đo đạc nên chưa thể làm căn cứ để giải quyết tranh chấp. Thủ tục xem xét, thẩm định tại chỗ và thủ tục đo đạc là hai thủ tục khác nhau, không giống nhau về hội đồng thực hiện nên không nhất thiết phải song hành cùng nhau. Việc đương sự không đồng ý thì có quyền được yêu cầu đo đạc lại. Việc đo đạc lại nhằm củng cố kết quả về sơ đồ tranh chấp nên cần chấp nhận yêu cầu của bị đơn, tiến hành đo đac lại hiện trạng sử dụng đất.

Trước các quan điểm trên thì tác giả cho rằng quan điểm thứ 2 là hợp lý hơn. Cần phân biệt mặc dù thủ tục xem xét thẩm định tại chỗ và thủ tục đo đạc được thực hiện đồng thời nhưng đây là hai thủ tục riêng biệt. Theo Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về thủ tục xem xét, thẩm định tại chỗ thực hiện như sau:

“1. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ với sự có mặt của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định và phải báo trước việc xem xét, thẩm định tại chỗ để đương sự biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định đó.

2. Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được ghi thành biên bản. Biên bản phải ghi rõ kết quả xem xét, thẩm định, mô tả rõ hiện trường, có chữ ký của người xem xét, thẩm định và chữ ký hoặc điểm chỉ của đương sự nếu họ có mặt, của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định và những người khác được mời tham gia việc xem xét, thẩm định. Sau khi lập xong biên bản, người xem xét, thẩm định phải yêu cầu đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định ký tên và đóng dấu xác nhận.”

Còn thủ tục đo đạc được tiến hành bởi cơ quan chuyên môn về đo đạc, chỉnh lý hồ sơ địa chính. Hội đồng thực hiện xem xét, thẩm định tại chỗ và hội đồng thực hiện đo đạc hiện trạng sử dụng đối với quyền sử dụng đất tranh chấp là khác nhau.

[2]. Thủ tục đo đạc hiện trạng quyền sử dụng đất chưa được quy định, hướng dẫn chi tiết, nhiều trường hợp kéo dài, ảnh hưởng lớn đến thủ tục tố tụng. Theo khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Toà án có thể tạm đình chỉ giải quyết trong trường hợp cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án. Thủ tục đo đạc hiện trạng quyền sử dụng đất không quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, thời gian thực hiện. Trong nhiều trường hợp, nếu việc đo đạc và trả kết quả đo đạc quá lâu thì Toà án sẽ thực hiện tạm đình chỉ vụ án với lý do nêu trên. Pháp luật cũng không quy định thời hạn tối đa cho việc tạm đình chỉ vụ án mà theo Điều 216 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hết hiệu lực kể từ ngày ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự. Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án kể từ khi ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự.

Thực tế giải quyết các vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, có trường hợp cơ quan đo đạc chậm trả kết quả đo đạc và thời gian này có thể kéo dài suốt 06 tháng, thậm chí mà 01 năm hoặc nhiều hơn.

Mặc dù Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; hết thời hạn này mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Việc xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là lý do miễn nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.”.

Tuy nhiên, thủ tục đo đạc lại được thực hiện bởi yêu cầu của đương sự gửi đến Toà án, việc đo đạc thực hiện theo thủ tục riêng, dịch vụ và hợp đồng đo đạc riêng, không thuộc trường hợp yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ của Toà án. Trên cơ sở pháp luật hiện nay lại không có quy định cụ thể về vấn đề này. Việc Toà án có công văn, văn bản yêu cầu trả kết quả đo đạc thì đang căn cứ vào quy định nào để buộc cơ quan chuyên môn đo đạc phải trả kết quả sớm hơn? Và Cơ quan chuyên môn đo đạc sẽ dựa vào quy định ràng buộc nào để phải trả kết quả đo đạc trong một thời gian nhất định?

Do đó, với các vướng mắc trên, hiện nay quy định về thủ tục đo đạc hiện trạng quyền sử dụng đất cần có quy định, hướng dẫn chi tiết hơn, Việc đo đạc khi giải quyết tranh chấp nên được xác định cụ thể thủ tục, trình tự thực hiện, các nội dung cần thể hiện để giải quyết được tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án. Chẳng hạn như sơ đồ phải thể hiện được các mục như hiện trạng thực tế sử dụng đất của các đương sự, so sánh với sơ đồ do cơ quan chức năng lưu trữ, thể hiện sự chênh lệch về diện tích hiện trạng so với sơ đồ lưu trữ. Đồng thời, cũng cần xem xét nâng cao năng lực và trách nhiệm của cơ quan chức năng tiến hành nhiệm vụ đo đạc, ràng buộc việc các cơ quan chức năng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định, tiêu chuẩn về đo đạc, đảm bảo được thời gian trả kết quả, không làm ảnh hưởng đến thời gian, thủ tục tố tụng theo luật định. Nên xem xét thủ tục đo đạc được lồng ghép vào một dịch vụ công, có trình tự, thủ tục và thời gian ấn định cho việc thực hiện đo đac, trả kết quả, giảm bớt các khó khăn trong quá trình thực hiện thủ tục này.

Đo Đạc Đất Khi Chuyển Nhượng: Bước Kiểm Tra Quan Trọng Giúp Hạn Chế Rủi Ro

Có nhất thiết phải đo đạc đất khi chuyển nhượng? Đây là câu hỏi được nhiều người quan tâm khi thực hiện giao dịch mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Trên thực tế, đo đạc đất không phải là thủ tục bắt buộc trong mọi trường hợp. Việc có cần đo đạc hay không còn phụ thuộc vào tình trạng thực tế của thửa đất, hồ sơ pháp lý và nhu cầu của các bên. Tuy nhiên, trong những trường hợp có sự chênh lệch về diện tích, thay đổi ranh giới, hiện trạng sử dụng không trùng khớp với giấy chứng nhận hoặc hồ sơ cũ có sai sót, việc đo đạc, kiểm tra thực tế là rất cần thiết.

 

Vì sao nên đo đạc đất trước khi chuyển nhượng?

Một thửa đất trên giấy tờ có thể có diện tích và ranh giới khác với hiện trạng sử dụng thực tế. Nếu những khác biệt này không được kiểm tra trước khi giao dịch, người mua và người bán có thể đối mặt với những vấn đề phát sinh sau này.

 

Đo đạc kiểm tra diện tích và ranh giới giúp các bên:

  • Xác định diện tích, kích thước và ranh giới thực tế của thửa đất.
  • Đối chiếu hiện trạng với thông tin trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  • Kịp thời phát hiện những điểm bất thường hoặc sai lệch về diện tích, mốc giới.
  • Hạn chế nguy cơ phát sinh tranh chấp với các thửa đất liền kề.
  • Có thêm cơ sở để thực hiện giao dịch và các thủ tục liên quan một cách thuận lợi hơn.

Có những trường hợp ranh giới thực tế không rõ ràng hoặc có sự chênh lệch so với giấy chứng nhận nếu không được kiểm tra từ sớm có thể trở thành nguyên nhân dẫn đến tranh chấp, ảnh hưởng đến thời gian, chi phí và quyền lợi của các bên.

 

Chủ động đo đạc – bảo vệ tài sản lâu dài

Chuyển nhượng quyền sử dụng đất là một giao dịch có giá trị lớn. Vì vậy, việc kiểm tra kỹ hiện trạng thửa đất trước khi giao dịch không chỉ giúp các bên có thông tin rõ ràng hơn mà còn góp phần hạn chế những rủi ro có thể phát sinh về sau.

Với kinh nghiệm trong lĩnh vực đo đạc, Đo đạc Nam Việt cung cấp dịch vụ đo đạc, kiểm tra diện tích và ranh giới đất, hỗ trợ khách hàng có được thông tin thực tế rõ ràng trước khi thực hiện các giao dịch liên quan đến bất động sản

Nếu bạn đang chuẩn bị mua bán, chuyển nhượng đất hoặc cần kiểm tra lại diện tích, ranh giới thửa đất, hãy liên hệ Đo đạc Nam Việt để được tư vấn và hỗ trợ phù hợp với tình trạng thực tế.

Đừng để những sai lệch nhỏ về diện tích, ranh giới trở thành rủi ro lớn đối với tài sản của bạn. Chủ động kiểm tra ngay từ đầu để giao dịch an tâm hơn.

 

ĐO ĐẠC NAM VIỆT
📞 Hotline/Zalo: 0906 920 555

 

Xây nhà xong rồi mà chưa hoàn công, có sao không?

Việc hoàn công là thủ tục cập nhật công trình xây dựng vào sổ sau khi nhà xây xong. Nếu không hoàn công, nhà vẫn chưa được ghi nhận hợp pháp trên giấy tờ, dẫn đến khó khăn khi thế chấp vay vốn, chuyển nhượng hoặc tách thửa.

Image result for nhà vừa hoàn thiện
Ngoài ra, khi bị kiểm tra, chủ nhà có thể bị xử phạt hành chính.
Em nhận hỗ trợ hồ sơ hoàn công – kiểm tra miễn phí và báo lộ trình rõ ràng từ đầu, không phát sinh bất ngờ.

Trích lục bản đồ để làm gì? Ai cần thì đọc kỹ nha.

Trích lục bản đồ là tài liệu thể hiện ranh giới, diện tích và vị trí thửa đất của bạn trên bản đồ địa chính. Đây là bước quan trọng trong quá trình thực hiện các thủ tục về đất đai như sang tên, hoàn công, hợp thức hóa, xin giấy phép xây dựng…

Image result for ảnh minh họa trích lục giấy tờ
Nếu bạn chưa từng xin trích lục, hoặc đã bị mất bản cũ, thì nên thực hiện lại càng sớm càng tốt để tránh rắc rối khi làm hồ sơ sau này.
Em hỗ trợ làm trọn gói – nhận tận nơi, trả tận tay, đúng chuẩn giấy tờ từ cơ quan nhà nước.

 

Ngôi nhà nâng trần, thêm cửa sổ mái để lấy sáng

Kết hợp nâng cao chiều cao trần, bổ sung cửa sổ hình tam giác, cho phép ánh sáng tự nhiên tràn vào bên trong ngôi nhà.

Ngôi nhà có quy mô một tầng, tọa lạc tại Brazil. Gia chủ mong muốn sở hữu một không gian sống thoải mái phù hợp cho gia đình sinh hoạt và tổ chức các buổi tụ họp cùng bạn bè.

Phần kiến ​​trúc được thiết kế theo phong cách công nghiệp, gam màu chủ đạo là đen và đỏ gạch. Mặt tiền bố trí tường gạch đục lỗ, vừa nhằm mục đích trang trí vừa đảm bảo khả năng thông gió cho công trình.

Từ cổng vào dẫn đến một khoảng sân trước rộng rãi kiêm chỗ đậu xe. Một không gian bếp ngoài trời cũng được bố trí tại đây, kết nối trực tiếp với bếp trong nhà, phù hợp tổ chức các buổi tụ họp, tiệc BBQ.

Với tổng diện tích xây dựng là 85 m2, không gian sinh hoạt chung được bố trí ở khối phía trước, gồm một phòng khách rộng rãi tích hợp khu vực ăn uống và bếp.

Tất cả các cửa sổ và cửa ra vào đều bằng nhôm màu đen, với các thanh ngang xoay phía trên, giúp đóng mở linh hoạt, góp phần thúc đẩy thông gió chéo.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Không gian bếp nấu luôn thông thoáng và đủ sáng. Hệ tủ bếp với các khoang lưu trữ rộng.

Để khắc phục nhược điểm thiếu sáng của các ngôi nhà ống thông thường, KTS chọn giải pháp nâng cao chiều cao trần nhà, bổ sung cửa sổ hình tam giác, cho phép ánh sáng tự nhiên tràn vào bên trong.

Hành lang nhỏ dẫn thẳng từ không gian sinh hoạt chung tới khối phòng ngủ và sân sau.

Các phòng ngủ được đưa về cuối khu đất nhằm tăng cảm giác riêng tư.

Nội thất ưu tiên tối giản, chú trọng các giải pháp lấy sáng và đối lưu không khí.